Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc: Tìm động lực tăng trưởng

Sáng 23/9, Hội nghị ngành Công Thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ VIII năm 2022 đã được diễn ra, tại Thanh Hoá. Hội nghị do Bộ Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa tổ chức.

Thảo luận tìm cơ hội đóng góp cho ngành Công Thương

Hội nghị được diễn ra dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An, Ông Mai Xuân Liêm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Cục trưởng Cục Công Thương địa phương Ngô Quang Trung. Tham dự Hội nghị có các đơn vị chức năng của các Cục, Vụ, đơn vị thuộc Bộ Công Thương, đại 5 tỉnh lãnh đạo UBND (Thanh Hóa, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Tuyên Quang), Giám đốc Sở Công Thương và trên 400 đại biểu từ 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An cho rằng, khu vực 28 tỉnh, thành phố phía Bắc chiếm 45% dân số cả nước, là khu vực có vị trí địa lý hết sức quan trọng của nước ta; bao gồm toàn bộ 02 vùng kinh tế – xã hội Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng và một phần vùng Bắc Trung bộ (gồm 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh); đây cũng là khu vực có “Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc”, Vùng kinh tế Thủ đô, tam giác kinh tế Hà Nội – Hải phòng – Quảng Ninh. Khu vực 28 tỉnh, thành phố phía Bắc có kết cấu hạ tầng, tổ chức giao thông tốt…

Vì vậy, Hội nghị ngành Công Thương 28 tỉnh, thành phố khu vực miền phía Bắc năm 2022 là dịp để ngành Công Thương tìm ra con đường để toàn vùng phát triển, từng địa phương phát triển. Qua tham luận của lãnh đạo các địa phương, sở Công Thương, phân tích những kết quả đạt được, chỉ ra những động lực nào để phát triển, khó khăn đang gặp phải, từ đó tìm ra cơ hội đóng góp cho ngành Công Thương phát triển hơn nữa.

Hội nghị tập trung đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển ngành Công Thương của các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2021 và 9 tháng đầu năm 2022, qua đó đề ra nhiệm vụ, giải pháp thực hiện những tháng cuối năm 2022 và giai đoạn tiếp theo.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An đề nghị các đại biểu chủ động, tích cực đóng góp ý kiến cho Báo cáo của ngành Công Thương khu vực miền phía Bắc, đồng thời tập trung thảo luận, trao đổi những kinh nghiệm nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc có liên quan trong công tác quản lý nhà nước của các Sở, ngành ở địa phương, qua đó đề ra giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo liên kết, hỗ trợ, hợp tác trong phát triển ngành Công Thương mỗi tỉnh, thành phố và toàn khu vực.

Những kết quả và tín hiệu khả quan

Phát biểu tại Hội nghị, ông Mai Xuân Liêm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cho rằng, những năm vừa qua, ngành Công Thương với yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển, đã và đang tiếp tục có những đóng góp rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc. Tuy nhiên, xét về mặt tổng quan, hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại của toàn khu vực vẫn còn chưa khai thác hết tiềm năng, lợi thế. Khoảng cách phát triển giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực vẫn còn tương đối lớn. Đây là những thách thức đặt ra với chúng ra trong thời gian tới trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi địa phương.

Để phát huy tiềm năng, thế mạnh của mỗi tỉnh, phục vụ cho giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi trước hết là sự liên kết, hợp tác giữa 28 tỉnh, thành phố trong khu vực. Hội nghị này được Bộ Công Thương tổ chức tại tỉnh Thanh Hóa nhằm tăng cường và thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hợp tác giữa các địa phương, tạo cơ hội giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động công tác của ngành Công Thương các tỉnh, thành phố trong khu vực; liên kết hoạt động và hỗ trợ để cùng phát triển, góp phần nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Cũng theo ông Liêm, Thanh Hóa là tỉnh nằm ở vị trí “cửa ngõ” của khu vực Bắc Trung Bộ, là “cầu nối” giữa các tỉnh phía Bắc với các tỉnh Bắc trung bộ và các tỉnh phía Nam nước ta; Thanh Hóa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

Thời gian qua, tỷ trọng công nghiệp và thương mại của tỉnh ngày càng tăng, hiện chiếm khoảng 67% cơ cấu kinh tế của Thanh Hóa. Toàn tỉnh đã hình thành 01 Khu kinh tế Nghi Sơn, 08 Khu công nghiệp và 40 Cụm công nghiệp. Định hướng quy hoạch đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh Thanh Hóa hình thành 02 Khu kinh tế (KKT Nghi Sơn và KKT Cửa khẩu Na Mèo), 19 Khu công nghiệp và 127 Cụm Công nghiệp. Đặc biệt, Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn chính thức cho sản phẩm, cùng với các dự án lớn khác như: nhà máy nhiệt điện BOT Nghi Sơn II, thép Nghi Sơn, xi măng Long Sơn… đã và đang tạo cho Thanh Hóa một giai đoạn phát triển đột phá về công nghiệp và tạo động lực lớn cho phát triển dịch vụ thương mại. Những kết quả trên của tỉnh Thanh Hóa luôn có sự đóng góp rất lớn của ngành Công Thương.

Theo báo cáo của Cục Công Thương địa phương, năm 2021 và 9 tháng đầu năm 2022, ngành Công Thương Khu vực thực hiện các nhiệm vụ dưới sự điều hành sát sao của Chính phủ, Bộ Công Thương; sự chỉ đạo quyết liệt của Thành ủy, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, sự phối hợp tích cực của các cấp, các ngành, địa phương cùng những nỗ lực của toàn Ngành, tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại Khu vực tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế của khu vực cũng như của cả nước.

Các chỉ tiêu chủ yếu về công nghiệp, thương mại của các tỉnh năm 2022 đã lấy lại đà tăng trưởng và tăng trưởng cao so với năm trước. Lĩnh vực sản xuất ngày càng phát triển theo hướng bền vững, giảm dần tỷ trọng lĩnh vực khai khoáng, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo, thân thiện môi trường, giá trị gia tăng cao. Công tác phát triển thị trường xuất khẩu tiếp tục đạt được những kết quả tích cực, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, sản phẩm xuất khẩu đa dạng, nhiều sản phẩm đã có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như EU, Nhật Bản, Mỹ… Cơ cấu thị trường xuất khẩu chuyển dịch theo hướng giảm dần xuất khẩu tiểu ngạch, tăng dần giá trị xuất khẩu sang thị trường Châu Âu và Châu Mỹ.

Ngành Công Thương đã quyết liệt triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp của Trung ương và của từng địa phương, nhờ đó “bức tranh” tổng thể về công nghiệp, thương mại của vùng trong năm 2021 và 9 tháng đầu năm 2022 vẫn thể hiện được những kết quả và tín hiệu khả quan. 9 tháng đầu năm 2022, có nhiều yếu tố thuận lợi cho hoạt động sản xuất công nghiệp của Khu vực như: tình hình dịch bệnh Covid-19 cơ bản được kiểm soát; các chính sách vĩ mô về khôi phục và phát triển được triển khai và phát huy có hiệu qủa; các doanh nghiệp chủ động, khẩn trương tập trung nguồn lực cho sản xuất sau thời gian dài bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh,…Vì vậy, sản xuất công nghiệp của đa số các tỉnh trong khu vực tiếp tục tăng trưởng ở mức cao so với cùng kỳ; có 21 tỉnh, thành phố có mức tăng trên 11%, cao hơn mức tăng của cả nước (dự kiến cả nước tăng 10,3%) đặc biệt có những tỉnh chỉ số sản xuất công nhiệp (IIP) ở mức tăng trưởng trên 30% so với cùng kỳ . Sản lượng các sản phẩm công nghiệp chủ yếu vẫn tiếp tục duy trì mức tăng trưởng cao.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ khu vực phía Bắc 9 tháng 2022 ước đạt 1.612,9 nghìn tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ. Trong đó, nhiều tỉnh, thành phố có tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng cao so với cùng kỳ. Một số địa phương chiếm tỷ trọng cao trong toàn khu vực như: Hà Nội ước đạt 509,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 34%; Hải Phòng ước đạt 128,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,6 %; Thanh Hóa 127,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,5%; Quảng Ninh 114,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,1%…

Tình hình xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu khu vực phía Bắc 9 tháng 2022 ước đạt 160,87 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ. Đa số xuất khẩu của các tỉnh trong khu vực đều tăng so cùng kỳ. Một số tỉnh, thành phố duy trì tốc độ tăng cao. Các địa phương đạt tổng kim ngạch xuất khẩu ở mức cao và chiếm tỷ trọng lớn trong toàn khu vực là: Bắc Ninh đạt 34,06 tỷ USD, chiếm 21,2%; Thái Nguyên đạt 24 tỷ USD, chiếm 14,9%; Hải Phòng đạt 20,31 tỷ USD, chiếm 12,6%; Bắc Giang đạt 15,73 tỷ USD, chiếm 9,8%; Hà Nội đạt 12,65 tỷ USD, chiếm 7,9%; Vĩnh Phúc đạt 9,88 tỷ USD, chiếm 6,1%; Phú Thọ đạt 9,5 tỷ USD, chiếm 5,9%…

Tổng kim ngạch nhập khẩu khu vực phía Bắc 9 tháng đầu năm 2022 ước đạt 160,66 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ. Các địa phương đạt tổng kim ngạch nhập khẩu ở mức cao và chiếm tỷ trọng lớn trong toàn khu vực là: Hà Nội 31,9 tỷ USD, chiếm 19,9%; Bắc Ninh 32 tỷ USD, chiếm 19,9%; Hải Phòng 20 tỷ USD, chiếm 12,4%; Bắc Giang 14,9 tỷ USD, chiếm 9,3%; Thái Nguyên 14,7 tỷ USD, chiếm 9,1%…

Công tác quản lý nhà nước về công thương đã được tăng cường và triển khai khá đồng bộ trên nhiều lĩnh vực; xây dựng, bổ sung các quy hoạch, đề án, cơ chế chính sách trong lĩnh vực công thương; công nghiệp, vật liệu nổ, an toàn hóa chất, khí hóa lỏng, kinh doanh có điều kiện, môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn điều hành cung ứng điện; cung – cầu hàng hoá thiết yếu được đảm bảo, nguồn cung hàng hoá dồi dào, công tác bình ổn giá được thực hiện tốt, các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đưa hàng hóa về nông thôn, vùng biên giới, hải đảo… được triển khai tích cực, góp phần thúc đẩy tiêu thụ và sức mua trên thị trường.

Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại… được đặc biệt quan tâm đẩy mạnh và đổi mới phương thức quản lý, góp phần bảo vệ và hỗ trợ thị trường trong nước phát triển lành mạnh. Công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, giải quyết đơn thư và tiếp dân được quan tâm, chú trọng.

Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Đặng Hoàng An cho rằng, năm 2021 và 9 tháng đầu năm 2022, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của nước ta nói chung và của ngành Công Thương nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, ảnh hưởng của dịch bện Covid 19, biến động địa chính trị, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, xung đột giữa Nga và Ucraina, hạn hán ở Trung Quốc…, các vấn đề này đã và đang tạo lực cản lớn đối với sự hồi phục kinh tế toàn cầu, tạo nên những căng thẳng mới đối với chuỗi cung ứng và tạo áp lực lạm phát mạnh hơn. Giá các mặt hàng chiến lược, thiết yếu vẫn đứng ở mức cao, nguy cơ mất ổn định an ninh năng lượng và lương thực, biến động kinh tế khó dự báo.

Với sự quyết tâm cao, ngành Công Thương khu vực phía Bắc đã nỗ lực phấn đấu, phát huy thành tựu những năm trước, khắc phục khó khăn; chủ động trong công tác quản lý nhà nước, đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh cùng với sự cố gắng của cộng đồng doanh nghiệp đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số hạn chế như: Một số ngành công nghiệp có thế mạnh của khu vực như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy… phụ thuộc nhiều vào linh kiện, phụ tùng nhập khẩu, khiến sản xuất còn bị động, chi phí cao… Vốn đầu tư và năng suất lao động chưa ổn định, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại còn chậm, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh còn thấp, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu phần lớn phụ thuộc vào khối doanh nghiệp FDI, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp còn thấp nên hạn chế khả năng sản xuất sản phẩm dịch vụ có tính ưu việt, chất lượng và giá trị cao.

Kết cấu hạ tầng thương mại được đầu tư nhưng vẫn còn thiếu đồng bộ, tính kết nối chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đặc biệt ở các tỉnh còn khó khăn. Vấn đề liên quan đến môi trường phòng chống cháy nổ, rác thải, nước thải, khí thải của các doanh nghiệp tại các khu, cụm công nghiệp vẫn cần tiếp tục triển khai các giải pháp xử lý triệt để.

Công tác liên kết vùng còn nhiều hạn chế, nhất là các hoạt động phối hợp, hợp tác giữa các địa phương trong việc thu hút đầu tư theo hướng chuyên môn hóa để khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương tạo động lực cho phát triển của toàn vùng.

Tập trung triển khai 6 nội dung hoàn thành nhiệm vụ

Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh, để đạt được mục tiêu kế hoạch năm 2022, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch 5 năm 2021- 2025 và thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu chung của toàn ngành Công Thương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Ngoài các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong báo cáo, đề nghị các địa phương, đặc biệt là các Sở Công Thương quan tâm triển khai một số nội dung như sau:

Một là, Tiếp tục tập trung đẩy mạnh triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết 01, 02 và Chương trình phục hồi kinh tế.

Tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả các văn bản cụ thể hóa Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình hành động của Trung ương và địa phương đã ban hành; nhất là các nội dung liên quan đến phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 01/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP, Nghị quyết số 11/NQ CP của Chính phủ; Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội và các Chương trình phục hồi kinh tế… để hoàn thành các mục tiêu năm 2022.

Hai là, Tập trung hoàn thành trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh, thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và tổ chức triển khai hiệu quả sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Ban hành các chiến lược, đề án phát triển các ngành công nghiệp, thương mại địa phương giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời tích hợp những nội dung này vào Quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh để triển khai thực hiện. Trong đó, ưu tiên thu hút đầu tư, phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp nền tảng, nhất là công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hóa chất, công nghiệp cơ khí, chế biến, chế tạo, công nghiệp điện tử,..

Rà soát lại hiện trạng, nhu cầu để lập các phương án/nội dung quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng công nghiệp thương mại cho phù hợp, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với quy hoạch vùng, quy hoạch quốc gia; làm cơ sở tích hợp vào quy hoạch tỉnh, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thực hiện.

Ba là, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Tạo điều kiện giải phóng mặt bằng những dự án trọng điểm, cấp bách, tạo thuận lợi trong các thủ tục hành chính của các dự án trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại trên địa bàn. Tiếp tục theo dõi, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm của quốc gia, của địa phương, đảm bảo chất lượng và tiến độ quy định; tiếp tục kêu gọi các dự án phát triển công nghiệp có giá trị cao.

Tiếp tục triển khai đồng bộ các biện pháp phục hồi phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, xuất khẩu, kích cầu, kết nối tiêu thụ hàng hóa. Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thực hiện chuyển đổi số, phát triển sản xuất thông minh… nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng liên kết, hội nhập và phát triển. Quan tâm hỗ trợ phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển du lịch.

Bốn là, tập trung ưu tiên cao cho các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định cung cầu, giá cả. Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả các mặt hàng thiết yếu để có biện pháp điều tiết kịp thời; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong điều hành giá để kiểm soát giá cả hàng hóa đầu vào, tăng cường kiểm tra, kiểm soát để ngăn chặn các hoạt động găm hàng, đầu cơ, thao túng giá.

Triển khai Chương trình bình ổn thị trường nhằm ổn định cung – cầu, giá cả trên từng địa bàn. Chú trọng đầu tư hiện đại hóa hệ thống phân phối ở vùng nông thôn, miền núi để đẩy mạnh đưa hàng Việt về nông thôn; phối hợp với Bộ Công Thương kiểm soát hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu để tạo điều kiện cho hàng Việt phát triển trên thị trường nội địa. Đẩy mạnh triển khai các hoạt động kích cầu tiêu dùng trên môi trường số, hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử để phân phối và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa.

Năm là, đẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy phát triển sản xuất. Hỗ trợ các doanh nghiệp về thông tin thị trường, xúc tiến xuất khẩu, tận dụng các cam kết trong các Hiệp định FTA đã ký kết và thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu để tìm kiếm thị trường mới; khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo để tạo ra các sản phẩm mới.

Tập trung xây dựng phát triển thương hiệu đối với các mặt hàng có thế mạnh của địa phương, phối hợp với các Bộ, ngành xử lý tốt vấn đề về truy xuất nguồn gốc bảo đảm chất lượng hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu của các nước, tận dụng tốt các FTA để đẩy mạnh xuất khẩu. Tuân thủ hướng dẫn của các Bộ, ngành triển khai thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch có lộ trình khi được Chính phủ thông qua.

Sáu là, Thực hiện các chương trình, hoạt động của ngành Công Thương đang triển khai hỗ trợ các địa phương trên cả nước như: Chương trình khuyến công, Chương trình khoa học và công nghệ, Chương trình phát triển thương mại điện tử quốc gia, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả… phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam…

Khu vực 28 tỉnh, thành phố phía Bắc (từ Hà Tĩnh trở ra) có tổng diện tích tự nhiên là 150.058,3km2, chiếm 45,28% diện tích tự nhiên của cả nước; tổng dân số là 44,47 triệu người, chiếm 45,12% dân số cả nước (Niên giám Thống kê năm 2020), trong đó: Vùng Trung du miền núi phía Bắc (gồm 14 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình) có diện tích tự nhiên 95184,1 km2, chiếm 28,72% diện tích tự nhiên của cả nước; Vùng đồng bằng Sông Hồng (gồm 11 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh) có diện tích tự nhiên 21.278,5 km2, chiếm 6,42% diện tích tự nhiên của cả nước; Vùng Bắc Trung Bộ gồm 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 33.595,7km2, chiếm 10,79% diện tích tự nhiên của cả nước.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương




Chia sẻ :

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC

Bài viết mới

View Counter

004334
Views Today : 12
Views This Month : 747
Views This Year : 5017
Total views : 13785
Language
Skip to content