Tập trung phục hồi và phát triển mới chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong và sau đại dịch Covid-19

TRẦN TUẤN ANH

Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công Thương

TCCS – Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp. Nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái nghiêm trọng. Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng, đã và đang chịu nhiều tác động của đại dịch COVID-19. Tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, tối ưu hóa sản xuất và chi phí, xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm phân tán và giảm thiểu rủi ro đang hiện diện mạnh mẽ, nhiều cơ hội và thách thức đan xen đặt ra cho Việt Nam. Vì vậy, việc tập trung phục hồi và phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị trong và sau đại dịch COVID-19 là rất cần thiết.

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011 – 2020 nhưng trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới mọi lĩnh vực của đời sống, nhất là kinh tế – xã hội, thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. Hệ thống thương mại đa phương và liên kết kinh tế quốc tế gặp nhiều khó khăn. Những gián đoạn về kinh tế và xã hội do đại dịch COVID-19 gây ra đã làm giảm đáng kể thương mại toàn cầu. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) tháng 10-2020 đã dự báo thương mại hàng hóa toàn cầu giảm khoảng 9,2% trong năm 2020, thấp hơn nhiều so với xu hướng trước khi đại dịch xảy ra. Cũng trong tháng 10-2020, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã dự báo thương mại toàn cầu sẽ giảm 10% năm 2020, con số tương tự trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009. Trong khi đó, Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) tháng 12-2020 dự báo, giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu giảm 5,6% so với năm 2019. Đây là năm giá trị thương mại hàng hóa toàn cầu giảm lớn nhất kể từ năm 2009. Cùng với cạnh tranh chiến lược nước lớn gay gắt hơn, đại dịch COVID-19 khiến nhiều nước đánh giá lại sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, tăng cường năng lực tự chủ, chủ nghĩa dân tộc, xu hướng hướng nội, bảo hộ tiếp tục gia tăng. Dịch chuyển đầu tư, sắp xếp lại chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu tiếp tục được thúc đẩy với động lực chính nhằm phân tán hoặc giảm thiểu rủi ro. Trong thời gian tới, cạnh tranh thu hút đầu tư và tham gia chuỗi cung ứng sẽ diễn ra quyết liệt hơn, nhất là giữa các nước đang phát triển có sự tương đồng về thị trường, trình độ phát triển, công nghệ và lao động, như các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thổ Nhĩ Kỳ…

Việc đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 đối với các ngành sản xuất, thương mại của Việt Nam cho thấy rõ hơn những điểm hạn chế căn bản, như nội lực của các ngành sản xuất còn hạn chế, phụ thuộc lớn vào các chuỗi cung ứng nước ngoài, chưa tự chủ được về các yếu tố đầu vào của sản xuất trong nhiều ngành, dẫn đến tình trạng phụ thuộc phần lớn vào linh kiện, phụ kiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu từ nước ngoài và khiến cho giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp nội địa thấp; nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho sản xuất ở một số ngành phụ thuộc vào một số ít thị trường. Vì vậy, phát triển sản xuất – kinh doanh dễ bị tổn thương trước những biến động về chính trị – kinh tế – xã hội trong và ngoài nước.

Trong bối cảnh tình hình đại dịch COVID-19 vẫn đang có những diễn biến rất phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, tiềm ẩn nhiều rủi ro thì việc tiếp tục giữ vững ổn định chính trị – xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế đi đôi với phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, uy tín và vị thế của Việt Nam đang được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đây là cơ hội “vàng” để Việt Nam tiếp tục tăng cường vai trò, tiếng nói và vị thế quốc gia trên trường quốc tế, là điểm đến đầu tư an toàn và sẵn sàng đón nhận các dòng vốn chuyển dịch tới Việt Nam.

Thực hiện Kết luận số 77-KL/TW, ngày 5-6-2020, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch COVID-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước” với những định hướng, các giải pháp cấp bách cần thực hiện ngay cũng như các giải pháp thực hiện trong dài hạn, Bộ Công Thương đã và đang tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để cụ thể hóa và thực hiện nhiệm vụ “Tập trung phục hồi và phát triển mới chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị; đa dạng hóa, tránh phụ thuộc vào một thị trường cả xuất khẩu và nhập khẩu; tăng cường xuất khẩu”. Cụ thể:

Một là, Bộ Công Thương củng cố và tổ chức lại các chuỗi cung ứng cho sản xuất công nghiệp, tạo sự bền vững, linh hoạt hơn, phát triển các chuỗi cung ứng mới.

Theo đó, Bộ Công Thương đã và đang tập trung thúc đẩy cơ cấu lại lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xác định trọng tâm cốt lõi là phát triển công nghiệp hỗ trợ, từng bước tự chủ nguồn nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ kiện trong nước để phát triển bền vững công nghiệp Việt Nam trong dài hạn. Thời gian qua, công nghiệp hỗ trợ đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm và định hướng là một trong những ngành ưu tiên phát triển và được ưu đãi đầu tư. Với sự ra đời của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP, ngày 3-11-2015, của Chính phủ, “Về phát triển công nghiệp hỗ trợ” và các văn bản chính sách liên quan, hệ thống pháp luật, chính sách về công nghiệp hỗ trợ ngày càng được hoàn thiện, góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ ngày càng phát triển và lớn mạnh. Số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam ngày càng được cải thiện rõ rệt. Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phần nào đáp ứng khá tốt nhu cầu trong nước và được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Một số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước ngày càng tích cực sử dụng các công cụ quản lý hiện đại vào sản xuất, đáp ứng các tiểu chuẩn quốc tế, trở thành nhà cung cấp cho các công ty đa quốc gia. Tính đến thời điểm hiện nay, số lượng nhà cung ứng cấp 1 của Samsung tăng từ 35 doanh nghiệp (năm 2018) lên 42 doanh nghiệp; số lượng nhà cung ứng cấp 2 cũng tăng từ 157 doanh nghiệp (năm 2018) lên 170 doanh nghiệp. Đến nay, có thêm 3 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn tham gia chuỗi cung ứng của Toyota. Mới đây, Samsung Việt Nam cùng Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ký kết Biên bản hợp tác đào tạo nguồn nhân lực cũng như phát triển hệ thống cung cấp cho Samsung tại tỉnh. Toyota Việt Nam hiện đang xúc tiến làm việc với Bộ Công Thương và tỉnh Vĩnh Phúc để tăng cường hoạt động tìm kiếm, kết nối các nhà cung ứng cho Toyota.

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách liên quan đến công nghiệp hỗ trợ, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thu hút, đón dòng vốn đầu tư và làn sóng dịch chuyển sản xuất của các công ty đa quốc gia; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP, ngày 6-8-2020, “Về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” với nhiều giải pháp trọng tâm, toàn diện để khuyến khích, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp, phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp đã nêu trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 22-3-2018, của Bộ Chính trị, “Về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Bộ Công Thương cũng đã trình Chính phủ xem xét, thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW và xây dựng Kế hoạch hành động triển khai chi tiết các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra tại Nghị quyết số 115/NQ-CP để tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ các nội dung nhằm thúc đẩy quá trình cơ cấu lại lĩnh vực công nghiệp, xây dựng các chuỗi cung ứng mới.

Đồng thời, Bộ Công Thương đã triển khai xây dựng các chính sách cho các ngành công nghiệp hạ nguồn nhằm tạo dung lượng thị trường phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa và thu hút đầu tư, như triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt may và da giầy đến năm 2030, định hướng đến năm 2035; xây dựng Chương trình phát triển bền vững ngành dệt may, da giầy giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2030 nhằm tháo gỡ “điểm nghẽn” về nguyên liệu, phụ liệu, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ 4.0 trong thiết kế, sản xuất; xanh hóa ngành công nghiệp dệt may, da giầy nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may, da giầy; đồng thời, tận dụng hiệu quả cao nhất các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) để đưa ngành dệt may, da giầy tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu; Xây dựng Nghị định về phát triển ngành cơ khí trọng điểm; tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của 2 trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp miền Bắc và miền Nam. Các trung tâm này đã và đang tích cực hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia có mặt tại Việt Nam, như Toyota, Mitsubishi, Canon,… nhằm tổ chức các chương trình tìm kiếm, kết nối các nhà cung cấp phù hợp tham gia chuỗi giá trị của các tập đoàn này.

Bộ Công Thương cũng đang tích cực làm việc với các địa phương, để định hướng tốt hơn cho các ngành công nghiệp địa phương. Qua đó, thúc đẩy liên kết nội vùng, liên vùng và quốc tế, tạo cơ sở phát triển mô hình tổ chức lãnh thổ, tổ chức sản xuất, kinh doanh mới; hình thành các cụm ngành, chuỗi giá trị sản xuất và cung ứng liên thông; tạo không gian phát triển mới, chuỗi cung ứng mới.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã xây dựng và chính thức khai trương hệ thống cơ sở dữ liệu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ, là dấu mốc quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu hình thành mạng lưới kết nối doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) trong và ngoài nước, giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, đáp ứng nhu cầu kết nối đầu tư, tăng cường cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các tập đoàn đa quốc gia. Đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19 bùng phát, các hoạt động giao thương trực tiếp gặp nhiều khó khăn, hệ thống này càng phát huy vai trò, giúp doanh nghiệp kết nối hợp tác đầu tư, kinh doanh, từng bước đưa sản phẩm tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

Hai là, tập trung thực hiện cơ cấu lại mặt hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, nhập khẩu, khai thác tốt và đa dạng hóa thị trường ngoài nước, tránh phụ thuộc vào một số thị trường trong tình hình mới.

Theo đó, Bộ Công Thương đã rà soát, tính toán, xây dựng kịch bản khai thác, phát triển thị trường xuất khẩu, nhập khẩu theo các nhóm ngành hàng Việt Nam có lợi thế, đặc biệt là các thị trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết FTA. Các hoạt động nghiên cứu về thị hiếu, dung lượng thị trường, khả năng sản xuất trong nước… chi tiết đến từng mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh và được ưu đãi nhiều về thuế quan đã được thực hiện ngay. Bộ Công Thương cũng làm việc với từng hiệp hội, ngành hàng cụ thể để xác định rõ các mặt hàng Việt Nam có lợi thế cũng như các biện pháp, giải pháp cần triển khai hỗ trợ phát triển những ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế tham gia sâu trong các chuỗi giá trị.

Song song với đó, Bộ Công Thương tích cực phối hợp cùng các bộ, ngành, cơ quan chuẩn bị các nhiệm vụ, điều kiện cần thiết để triển khai thực thi có hiệu quả EVFTA, như nội luật hóa nội dung hiệp định; tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn cho các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp về Hiệp định này, như tổ chức Hội nghị hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng cơ hội, thực thi hiệu quả EVFTA; chủ trì cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn cho khu vực doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam sang thị trường Liên minh châu Âu (EU); phối hợp cùng Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị hướng dẫn doanh nghiệp tận dụng hiệu quả EVFTA và phổ biến các thông tin hữu ích về các cam kết liên quan đến thuế quan của EVFTA để các doanh nghiệp chủ động có kế hoạch đầu tư, sản xuất, sẵn sàng nguồn hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường này ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, đặc biệt tận dụng cơ hội ngay khi dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, các khu vực thị trường này sẽ hồi phục trở lại thu hút lượng hàng lớn. Đây cũng là thời cơ cho hàng hóa của Việt Nam tiếp cận và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực các nước châu Âu.

Bộ Công Thương cũng đã thiết lập trang điện tử chuyên sâu về EVFTA (tại địa chỉ http://evfta.moit.gov.vn) để cung cấp thông tin, giải thích cam kết cũng như kết nối với người dân và doanh nghiệp về EVFTA. Đồng thời, Bộ đã ban hành Thông tư số 11/2020/TT-BCT, ngày 15-6-2020, “Quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong EVFTA”. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng để hàng hóa xuất khẩu đi EU được cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) ưu đãi ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Hiệp định EVFTA đã đi vào thực thi tạo lợi thế lớn cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, đổi mới trang bị, thiết bị, công nghệ với chi phí hiệu quả hơn nhằm nâng cao năng lực và sức cạnh tranh trong thời gian tới.

Cùng với đó, Bộ Công Thương đã và đang triển khai đồng loạt các biện pháp kết nối thị trường bằng nhiều hình thức khác nhau để thực hiện tốt yêu cầu đặt ra trong tình hình mới. Duy trì, thúc đẩy quan hệ thương mại song phương thông qua việc tổ chức các buổi điện đàm trực tiếp giữa Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam với bộ trưởng bộ quản lý thương mại, cao ủy thương mại của các thị trường lớn, như Ô-xtrây-li-a, Trung Quốc, EU, Ca-na-đa, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để trao đổi về tình hình hợp tác thương mại, qua đó, tháo gỡ khó khăn về mở cửa thị trường. Một mặt, chỉ đạo hệ thống hơn 60 thương vụ/chi nhánh thương vụ Việt Nam ở nước ngoài liên tục rà soát, cập nhật thông tin về cung – cầu hàng hóa, nhu cầu nhập khẩu của các nước trước các diễn biến mới của tình hình dịch bệnh; làm việc với các hiệp hội nhà mua hàng, đầu mối nhập khẩu và cung ứng hàng hóa ở các nước để kết nối với doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, Bộ Công Thương đã nhanh chóng thiết lập các phương thức mới trong công tác xúc tiến thị trường qua hình thức trực tuyến, chỉ đạo quyết liệt triển khai các hoạt động kết nối giao thương trực tuyến giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác có nhu cầu nhập khẩu, nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa của Việt Nam, thiết lập chuỗi cung ứng mới.

Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam cũng đã ký kết thành công Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) – là FTA có sự tham gia của 10 nền kinh tế ASEAN và 5 quốc gia mà ASEAN đã có các FTA. Với một khu vực thị trường lớn nhất thế giới về dân số, quy mô GDP vào khoảng 1/3 tổng GDP toàn cầu – Hiệp định RCEP dự kiến sẽ mang lại nhiều cơ hội cho thương mại hàng hóa của Việt Nam cũng như các quốc gia ASEAN và đối tác trong thời gian tới. Cùng với Hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP được kỳ vọng sẽ là cơ hội thuận lợi cho tất cả các nước tham gia Hiệp định cũng như doanh nghiệp của các nước trong Hiệp định cơ cấu lại, định vị lại các chuỗi cung ứng và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu sau khi chấm dứt đại dịch COVID-19. Do đó, Việt Nam với tư cách là một nền kinh tế mở sẽ có thể khai thác tốt hơn nữa vị thế mới, từ đó, xây dựng vị trí trong bản đồ của các chuỗi cung ứng trên toàn cầu.

Ba là, hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng hàng hóa trong nước.

Bộ Công Thương đang tiếp tục triển khai các biện pháp hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng hàng hóa, trước hết là chuỗi cung ứng hàng nông sản thực phẩm thiết yếu của thị trường nội địa, đẩy mạnh liên kết chuỗi, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất với các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ và đẩy mạnh liên kết trong toàn chuỗi cung ứng, gắn với thực hiện tốt các quy định về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Hình thành các chuỗi liên kết thuần Việt Nam đáp ứng quy định, tiêu chuẩn theo đúng thông lệ quốc tế. Đồng thời, tăng cường phát huy các sáng kiến kết nối cung – cầu trên thị trường trong nước; tiếp tục triển khai các hoạt động kết nối cung – cầu hàng hóa, kích cầu tiêu dùng nội địa nhằm tạo thuận lợi tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước tại các kênh phân phối truyền thống và hiện đại.

Tập trung phục hồi và tham gia sâu hơn mạng sản xuất vào chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời, nâng cao tính độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế của nước ta thời gian tới đây vừa là yêu cầu, đòi hỏi nhưng cũng vừa là phương châm, cách thức để Việt Nam có thể vượt qua khó khăn, thách thức và tận dụng được những cơ hội thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn phát triển sắp tới. Nhận thức sâu sắc quan điểm, định  hướng của Đảng, bên cạnh các biện pháp căn bản như đã nêu trên, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đánh giá đúng và thực chất xu hướng chuyển dịch đầu tư, tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu để có đối sách phù hợp; chủ động tiếp cận, vận động các tập đoàn lớn, nhất là các tập đoàn công nghệ thu hút đầu tư vào những lĩnh vực công nghiệp trọng điểm; xây dựng, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy định về năng lượng, xuất xứ hàng hóa để ngăn ngừa dòng đầu tư chất lượng thấp, đầu tư lẩn tránh thuế quan, từ đó kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và chủ động triển khai các biện pháp để tận dụng cơ hội thị trường, giảm thiểu khó khăn, phục hồi chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị bị đứt gãy, xây dựng và phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị mới, qua đó, định hình và xác lập vị thế mới của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu./.

Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính




Chia sẻ :

BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC

Bài viết mới

View Counter

004386
Views Today : 22
Views This Month : 92
Views This Year : 5143
Total views : 13911
Language
Skip to content